Hội chứng KLINEFELTER

04/10/2019 | BS Phan Nhật Quang - Th.S Nguyễn Đình Liên | 377 lượt xem
  
HỘI CHỨNG KLINEFELTER
Syndrome Klinefelter
 
 
 
Hội chứng Klinefelter (KS) là hội chứng liên quan đến tình trạng không phân ly nhiễm sắc thể ở nam giới, tức là những người mắc chứng Klinefelter có bộ nhiễm sắc thể bất thường. Bộ nhiễm sắc thể của họ có nhiều hơn 2 nhiễm sắc thể X cùng với một nhiễm sắc thể Y. Thể hay gặp nhất đó là 47XXY.  Hội chứng này được đặt tên theo bác sĩ Harry Klinefelter, nhà nghiên cứu y học tại Bệnh viên Đa khoa Massachusetts, Boston, Massachusetts, do ông lần đầu tiên miêu tả lâm sàng tình trạng này vào năm 1942. Có nhiều dấu hiệu trong hội chứng này nhưng đặc điểm chính là vô sinh và thể tích tinh hoàn nhỏ. Các biệu hiện lâm sàng thường khó nhận biết bởi các dấu hiệu chính nằm ở bộ phận sinh dục theo hướng nhi hóa, các triệu chứng này ít khi được phơi bày nên ngay cả với bệnh nhân cũng không biết rằng mình mang bệnh. Có nhiều triệu chứng dễ quan sát nhưng không đặc hiệu bao gồm cơ bắp yếu hơn, chiều cao lớn , khả năng phối hợp kém, ít lông trên cơ thể, vú to và ít có ham muốn tình dục. Thông thường, khi trẻ dậy thì những triệu chứng kể trên mới được quan tâm. Người mắc chứng Klinefelter có trí thông minh bìn thường hoặc giảm nhẹ, có rất nhiều người mắc hội chứng này tốt nghiệp được đại học, tuy nhiên, khả năng đọc khó khăn và vấn đề với lời nói là phổ biến hơn. Các triệu chứng thường nghiêm trọng hơn nếu có ba hoặc nhiều nhiễm sắc thể X ( hội chứng 48, hội chứng XXXY hoặc hội chứng 49, XXXXY ).
Human chromosomesXXY01.png
 
Hình 1: Nhiễm sắc thể đồ với 47 nhiễm sắc thể, có 2 nhiễm sắc thể X và 1 nhiễm sắc thể giới tinh Y.
 

 
          
VIDEO GIẢI THÍCH VỀ CƠ CHẾ VÀ TRIỆU CHỨNG CŨNG NHƯ ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG KLINEFELTER.
Hội chứng Klinefelter thường xảy ra ngẫu nhiên. Tuy nhiên mẹ lớn tuổi có thể làm gia tăng khả năng con mắc các bệnh lý liên quan đến NST và  Klinefenter là một trong số đó. Có nhiều nguyên nhân sâu sa gây ra bệnh tuy nhiên cơ chế cơ bản liên quan đến ít nhất một nhiễm sắc thể X thêm vào bộ nhiễm sắc thể 46 XY sao cho tổng số nhiễm sắc thể là 47 hoặc nhiều hơn nữa. Do đó Klinefelter được chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm di truyền được gọi là karyotype.
Không có phương pháp hay liệu pháp nào có thể điều trị được bệnh. Tuy nhiên có nhiều phương pháp trị liệu được đông đảo các tác giả khuyên dùng như vật lsy trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, tư vấn và điều chỉnh phương pháp giảng dạy, liệu pháp thay thế Androgen, tư vấn di truyền. Ngực to có thể được loại bỏ bằng phẫu thuật. Nam giới mắc hội chứng này vân có khả năng làm cha với công nghệ hỗ trợ sinh sản, tuy nhiên tốn kém và cơ hội thành công không cao. Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng, nam giới với hội chứng Klinefelter có nguy cơ ung thư vú gấp 20 lần. Tuy nhiên khả năng sống và thời gian sống vẫn ở mức bình thường.
 
NGUYÊN NHÂN.
Klinefelter là Rối loạn NST thường gặp nhất, trong đó kiểu sắp xếp nhiễm sắc thể XXY là một biến thể di truyền thường gặp nhất, xảy ra vào khoảng 1 cho mỗi 500 đến 1000 trẻ nam khi sinh ở Hoa Kỳ. Do sự thêm vào của một nhiễm sắc thể, người bị tình trạng này thường được gọi là "Nam XXY", hay "Nam 47,XXY" với kiểu hình là nam hơn là "mắc hội chứng Klinefelter."
Ở động vật có vú với hơn một nhiễm sắc thể X, chỉ có một nhiễm sắc thể X ở trạng thái hoạt động, còn (các) nhiễm sắc thể X kia bị bất hoạt và hầu hết các gen trên chúng không được biểu hiện. Điều này xảy ra cả ở nam XXY lẫn nữ XX. Tuy nhiên, một số ít gen vẫn được biểu lộ dù chúng trên nhiễm sắc thể X bất hoạt; đây là các gen có gen tương ứng trên nhiễm sắc thể Y (vùng giả nhiễm sắc thể thường). Các gen thể ba nhiễm này ở nam XXY có lẽ là nguyên nhân của các triệu chứng liên quan đến hội chứng Klinefelter.
Trong khoảng 50-60% trường hợp, hiện tượng không phân li nhiễm sắc thể xảy ra ở mẹ (75% do lỗi phân bào giảm nhiễm I). Các trường hợp còn lại xảy ra do không phân li ở người cha. Kiểu nhân thường gặp nhất là 47,XXY (khoảng 80-90% các trường hợp); thể khảm 46,XY/47,XXY gặp trong khoảng 10% trường hợp. Các thể khác, gồm 48,XXYY, 48,XXXY, 49,XXXYY, và 49,XXXXY, rất hiếm. Thể khảm 46,XY/47,XXY có thể xảy ra ở hợp tử 46,XY hoặc 47,XXY, và do rối loạn phân bào sau khi thụ tinh tạo hợp tử.
 
 

Hình 2: Sự ra đời của một tế bào có karyotype XXY do sự kiện không liên kết của một nhiễm sắc thể X từ nhiễm sắc thể Y trong quá trình phân bào I ở nam
 


Hình 3: Sự ra đời của một tế bào có karyotype XXY do sự kiện không liên kết của một nhiễm sắc thể X trong quá trình phân bào ở phụ nữ


DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG.
Người mang bộ NST XXY biểu hiện kiểu hình nam được đặc trưng dựa trên các đặc điểm gen của NST giới tính Y, tuy nhiên biểu hiện kiểu hình nam này bị kìm hãm bởi 2 NST X do đó có kiểu hình “ nam không hoàn toàn” và chính sự thay đổi đáng kể về đặc điểm thể chất này gợi ý đến hội chứng Klinefelter và phương pháp đáng tin cậy duy nhất để chẩn đoán xác định xét nghiệm karyotype.
Hình thể.
Khi trẻ sơ sinh và trẻ em, nam XXY có thể có cơ bắp yếu hơn và giảm sức mạnh cơ bắp. Khi chúng lớn lên, chúng có xu hướng trở nên cao hơn trung bình. Họ khó có thể kiểm soát và phối hợp cơ bắp so với những cậu bé cùng tuổi khác.
Ở tuổi dậy thì, các đặc điểm thể chất của hội chứng trở nên rõ ràng hơn; bởi vì những cậu bé này không sản xuất nhiều testosterone như những cậu bé khác, chúng có thân hình ít cơ bắp hơn, ít lông trên mặt và cơ thể và hông rộng hơn. Khi còn là thanh thiếu niên, nam XXY có thể phát triển mô vú và cũng có xương yếu hơn và mức năng lượng thấp hơn so với những người đàn ông khác.
Khi tuổi trưởng thành, nam giới XXY trông giống nam tuy nhiên không phát triển hoàn toàn, có nhiều đặc điểm giống nữ giới. Nhóm mắc bệnh này cùng có chiều cao trung bình cao hơn. Đặc điểm quan trọng nhất dễ nhận thấy là dấu hiệu gynecomastia (nữ hóa tuyến vú).  Gynecomastia chỉ hiện diện ở 1/3 người bệnh, tỷ lệ cao hơn một chút so với dân số XY. Nguy cơ phát triển carcinoma vú cao hơn ít nhất 20 lần so với người bình thường. Khoảng 10% nam giới XXY có vú to đáng chú ý đến mức họ có thể chọn phẫu thuật thẩm mỹ (số liệu tại hoa kì).
Về các rối loạn tuần hoàn và tim, sa van hai lá gặp ở 55% bệnh nhân, dãn tĩnh mạch ở 20-40%, loét tĩnh mạch 10-20 lần cao hơn bình thường, nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi cũng tăng.
Nam giới bị ảnh hưởng thường vô sinh , hoặc có thể làm giảm khả năng sinh sản. Hỗ trợ sinh sản nâng cao đôi khi có thể.
Khảo sát mô học cho thấy tinh hoàn nhỏ, thường có chiều dài dưới 2 cm (và luôn ngắn hơn 3,5 cm chiều rộng 1 cm và thể tích 4 ml. Với hiện tượng hyalin hoá, xơ hoá và teo ống sinh tinh kèm tăng sản khu trú của các tế bào Leydig hầu hết đã bị thoái hoá, vì vậy mật độ tinh hoàn chắc hơn bình thường. Tế bào mầm giảm đáng kể hoặc không có. Hiện tượng sinh tinh trùng hiếm được bắt gặp. Ở bệnh nhân thể khảm, hyalin hoá và thoái hoá tiến triển ống sinh tinh xảy ra sau dậy thì mặc dù lúc dậy thì tinh hoàn có kích thước bình thường và có hiện tượng sinh tinh trùng. Mô học của vú to cho thấy tăng sản mô gian ống. Đột biến số lượng NST dạng thể ba ở cặp NST giới tính là hội chứng xảy ra ở trẻ trai có hai hoặc đôi khi nhiều hơn 2 nhiễm sắc thể giới tính X, mà vẫn có nhiễm sắc thể chân tay dài, thân cao không bình thường, tinh hoàn nhỏ, si đần, ko có con.
 
Nhận thức và trí tuệ.
Một số khiếm khuyết về ngôn ngữ có thể có mặt, và kiểm tra tâm thần kinh thường cho thấy sự thiếu hụt trong các chức năng điều hành , mặc dù những thiếu sót này thường có thể được khắc phục thông qua can thiệp sớm.  Ngoài ra, sự chậm trễ trong phát triển vận động có thể xảy ra, có thể được giải quyết thông qua các liệu pháp nghề nghiệp và thể chất. Nam giới XXY có thể ngồi dậy, bò và đi muộn hơn những đứa trẻ khác; họ cũng có thể học tập và lao động trong trường học, cả về học thuật và thể thao tuy rằng có nhiều khó khăn.
Hầu hết nam 47,XXY có trí thông minh bình thường. Nền tảng gia đình ảnh hưởng đến IQ. Trí tuệ dưới mức bình thường hoặc chậm phát triển tâm thần có thể liên hệ với sự hiện diện của nhiều nhiễm sắc thể X hơn.

     
Hình 2: Người mắc hội chứng Klinefelter điển hình.
 
CHẨN ĐOÁN
 
Khoảng 10% trường hợp mắc hội chứng Klinefelter được tìm thấy bằng chẩn đoán trước sinh nhờ chọc ối và phân tích di truyền tế bào dịch ối. Các đặc điểm lâm sàng đầu tiên có thể xuất hiện ở thời kỳ thơ ấu, hoặc thường xuyên hơn và rõ ràng hơn ở tuổi dậy thì, chẳng hạn như thiếu các đặc điểm sinh dục thứ phát và phát sinh dậy thì muộn tinh hoàn teo nhỏ,  .
Mặc dù có sự hiện diện của tinh hoàn nhỏ, mật độ chắc, nhưng chỉ một phần tư nam giới bị ảnh hưởng được công nhận là có hội chứng Klinefelter ở tuổi dậy thì. Một phần tư khác nhận được chẩn đoán ở tuổi trưởng thành muộn. Thông thường, chẩn đoán được thực hiện một cách tình cờ là kết quả của việc kiểm tra và thăm khám y tế vì những lý do không liên quan đến tình trạng này.
Phương pháp chẩn đoán chuẩn là phân tích kiểu nhân của nhiễm sắc thể trên tế bào lympho . Trong quá khứ, việc quan sát cơ thể Barr cũng là thông lệ. Để xác nhận bệnh khảm, phân tích karyotype bằng cách sử dụng nguyên bào sợi hoặc mô tinh hoàn cũng có thể được áp dụng.
Các phương pháp khác có thể bao gồm nghiên cứu nồng độ gonadotropin trong huyết thanh cao, sự hiện diện của azoospermia, xác định nhiễm sắc thể giới tính.

 
 
ĐIỀU TRỊ

Biến thể di truyền là không thể đảo ngược, nhưng những cá nhân muốn trông nam tính hơn có thể áp dụng liệu pháp testosterone.  Điều trị cho thanh thiếu niên bằng cấy ghép testosterone giải phóng có kiểm soát đã cho thấy kết quả tốt khi được theo dõi thích hợp tránh các biến chứng không mong muốn. Liệu pháp hormon cũng hữu ích trong việc ngăn ngừa sự xuất hiện của bệnh loãng xương .
Thông thường, những cá nhân có mô vú hoặc suy sinh dục đáng chú ý gặp phải trầm cảm và / hoặc lo lắng xã hội vì họ nằm ngoài các quy tắc xã hội. Một thuật ngữ học thuật cho điều này là bệnh tật tâm lý xã hội. Ít nhất một nghiên cứu chỉ ra rằng cần hỗ trợ theo kế hoạch và đúng thời gian cho nam thanh niên có KS để cải thiện kết quả tâm lý xã hội kém hiện tại. Việc phẫu thuật cắt bỏ vú có thể được xem xét vì cả lý do tâm lý và để giảm nguy cơ ung thư vú.
Việc sử dụng liệu pháp hành vi có thể giảm thiểu mọi rối loạn ngôn ngữ, khó khăn ở trường và xã hội hóa. Một cách tiếp cận bằng liệu pháp nghề nghiệp rất hữu ích ở trẻ em, đặc biệt là những người mắc chứng khó thở.

Điều trị vô sinh

Kết quả hình ảnh cho ICsi
Tiêm tinh trùng vào buồng trứng .
Đến năm 2010, hơn 100 trường hợp mang thai thành công đã được báo cáo bằng cách sử dụng công nghệ IVF và ICSI với vật liệu tinh trùng được phẫu thuật cắt bỏ từ nam giới có KS. [48] Chiết xuất tinh trùng tinh hoàn ở nam giới trưởng thành mắc hội chứng Klinefelter báo cáo tỷ lệ thành công lên tới 45%. 
 

Top